WISDOMWORD.INFO

Real dating schaumburg bloomingdale speed amazing smoking hot

Đề tài: Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015

Mở đầu

Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, vốn đầu tư cho phát triển là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của quốc gia. Đối với Việt Nam, mục tiêu đặt ra là thực hiện thành công quá trình CNH-HĐH đất nước, phấn đấu đến năm 2020, Việt nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Do đó việc thu hút vốn đầu tư trở thành chiến lược quan trọng của đất nước. Nguồn vốn ODA được chính phủ Việt Nam đánh giá là một trong những nguồn vốn quan trọng của Ngân sách Nhà nước được sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế-xã hội. Nguồn vốn này đã phần nào đáp ứng nhu cầu bức thiết về vốn trong công cuộc CNH-HĐH đất nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo. Tuy nhiên ODA không chỉ là một khoản cho vay, mà đi kèm với nó là các điều kiện ràng buộc về chính trị, kinh tế. Sẽ là gánh nặng nợ nần cho các thế hệ sau hoặc phải chịu sự chi phối của nước ngoài nếu chúng ta không biết cách quản lý và sử dụng ODA. Bởi vậy quản lý và sử dụng ODA sao cho có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển đất nước là một yêu cầu tất yếu. Vì các lý do trên nên chúng em đã chọn đề tài “ Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam hiện nay”.

 

Mở đầu. 1

Chương I.Sơ lược những vấn đề cơ bản. 

1..1Quá trình hình thành và xu thế phát triển của ODA.. 

1.1.1 Quá trình hình thành và xu thế phát triển ODA trên thế giới 

1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển ODA ở Việt Nam. 

1.2. Khái niệm và mục tiêu của ODA.. 

1.2.1 Khái niệm.. 

1.2.2 Mục tiêu của ODA.. 

1.3. Đặc điểm và phân loại ODA.. 

1.3.1 Đặc điểm của ODA.. 

1.3.2 Phân loại nguồn vốn ODA.. 

1.4. Vai trò của ODA..

1.4.1 Đối với nước nhận tài trợ.

1.4.2 Đối với nước tài trợ. 

Chương II. Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam hiện nay.

2.1 Thực trạng thu hút nguồn vốn ODA ở Việt Nam hiện nay. 

2.2. Thực trạng sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam hiện nay.

2.2.1.Tình hình giải ngân.

Ø      Giai đoạn 2011-2012.

2.2.2 Thực trạng quản lý và sử dụng ODA..

2.2.3 Dự án ODA trong năm 2015.

2.3. Những khó khăn của việt nam trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA.

Chương III. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam hiện nay.

 

Chương I.Sơ lược những vấn đề cơ bản

1..1Quá trình hình thành và xu thế phát triển của ODA

1.1.1 Quá trình hình thành và xu thế phát triển ODA trên thế giới

Thuật ngữ “hỗ trợ chính thức” xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, gắn liền với yếu tố chính trị. Lúc đó cả châu Âu, châu Á đều trong cảnh hoang tàn, riêng Mĩ là không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, đặc biệt nước Mĩ lại nhờ chiến tranh mà trở nên giàu có. Khi đó Mĩ đã viện trợ ồ ạt cho các nước đồng minh Tây Âu nhằm ngăn chặn sự ảnh hưởng của Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Mĩ đã triển khai kế hoạch “Marshall” thông qua ngân hàng thế giới mà chủ yếu là IBRD thực hiện viện trợ ồ ạt cho Tây Âu với tên gọi là “Hỗ trợ phát triển chính thức” được vị là trận mưa dola khổng lồ cho châu Âu. Tiếp đó, một số nước công nghiệp đã thỏa thuận về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại, hoặc cho vay dưới điều kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển. Ngày 14/2/1960 tại Pari đã ký thỏa thuận thành lập Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD. OECD gồm 20 nước thành viên, ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp ODA song phương và đa phương. Trong khuôn khổ hợp tác và phát triển, OECD đã lập ra Ủy ban chuyên môn, trong đó DAC phụ trách việc giúp các nước đang phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Hiện nay, thế giới có 4 nguồn cung cấp ODA chủ yếu, đó là: hỗ trợ của DAC, của Nga, của một số nước Ả Rập và một số nước đang phát triển.

Ngoài ra, còn một số tổ chức đa phương như Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, Tổ chức Nông Nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế khác.

1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển ODA ở Việt Nam.

Quan hệ viện trợ cho Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ những năm 1950. Trong giai đoạn từ 1950 đến cuối thập kỉ 1980, nguồn viện trợ chủ yếu đến từ Liên Xô cũ và các nước châu Âu.

Sau khi miền Nam Việt Nam được giải phóng năm 1975, nhiều nhà tài trợ phương Tây đã viện trợ cho Việt Nam. Năm 1979 có khoảng 70 tổ chức hoạt động thuộ khu vực châu Âu, Bắc Mĩ viện trợ cho Việt Nam với số vốn khoảng 30 triệu USD. Trong giai đoạn 1979-1988, Mĩ cấm vận làm cho một số tổ chức lớn ngừng hoạt động viện trợ cho Việt Nam, một số tổ chức khác hoạt động cầm chừng. Viện trợ đã giảm xuống còn khoảng 8-10 triệu USD/năm và khoảng 70% khoản viện trợ dùng cho các hoạt động khẩn cấp. Trong hai năm 1991-1992, OECD đã nối lại viện trợ, nguồn vốn ODA tăng từ 70 triệu USD giai đoạn 1989-1990 lên 350 triệu USD năm 1992.

Sau khi Mĩ bỏ dở bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ quốc tế tổ chức vào tháng 11/1993 đã đánh dấu một mốc quan hệ mới ODA với sự tham gia của rất nhiều tổ chức đa phương và các nước thành viên của Ủy ban phát triển. Cũng trong giai này Việt Nam đã tiến hành đàm phán và kí kết các nghị thư, bản ghi nhớ, văn kiện dự án, điều ước quốc tế về ODA. Tổng giá trị điều ước quốc tế về ODA khoảng 19,5 tỉ USD. Trong số các nhà tài trợ, Nhật Bản là tài trợ lớn nhất (chiếm khoảng 40% tổng giá trị vốn ODA kí kết giai đoạn 1993-1999), tiếp đến là WB, ADB, Úc, Hàn Quốc, Pháp, Đức, Đan Mạch, Thụy Điển…

  • Về các hình thức cung cấp ODA.

Trong những năm qua, các hình thức tài trợ ODA cho Việt Nam khá phong phú và đa dạng như: (1) Các chương trình hoặc khoản vay bằng tiền mặt, hoặc hàng hóa hỗ trợ ngân sách của Chính phủ ; (2) Các chương trình nhằm thực hiện một hoặc nhiều mục tiêu với một tập hợp nhiều dự án; (3) Các dự án hỗ trợ kĩ thuật nhằm phát triển thể chế, tăng cường năng lực của chuyên gia, người tình nguyện, cung cấp một số trang thiết bị, nhận đào tạo cán bộ Việt Nam tại chỗ, hoặc ở nước ngoài, theo các khóa học ngắn hạn dưới một năm, hỗ trợ nghiên cứu điều tra cơ bản (lập quy hoạch, báo cáo nghiên cứu tổng quan, báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, khả thi…); (4) Hỗ trợ theo dự án: ODA được cung cấp để thực hiện các công trình xây cơ bản (xây lắp, đầu tư trang thiết bị…).

  • Nguồn lực quản lí và sử dụng ODA.

Trước năm 1993, việc quản lí và sử dụng ODA được điều tiết bởi từng quyết định riêng lẻ của Chính phủ đối với từng chương trình, dự án ODA và nhà tài trợ. Ngày 15/3/1994 Nghị định 20/CP về Quy chế quản lí và sử dụng ODA ra đời. Đây là văn kiện pháp lí đầu tiên, xác định một cách đồng bộ từ khâu vận động, kí kết các điều ước về ODA, tổ chức thực hiện cho đến khâu theo dõi và đánh giá kết quả dự án. Sau một thời gian thực hiện, Nghị định này cũng bộc lộ những điểm bất hợp lí cần bổ sưng và hoàn chỉnh. Do vậy, ngày 5/8/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định 87/CP để thay thế Nghị định 20/CP và gần đây là Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006.

Nghị định 131/2006/NĐ-CP được ban hành là tạo ra một môi trường pháp lí thông thoáng và linh hoạt hơn cho ODA để một mặt bằng tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương trong quản lí và sử dụng ODA; mặt khác duy trì được sự quản lý tập trung của Chính phủ đối với nguồn lực quan trọng này.

  • Phân công chức năng, nhiệm vụ trong quản lí, sử dụng ODA

Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối trong thu hút điều phối ODA, soạn thảo các văn bản về quản lí và sử dụng ODA, cùng Bộ Tài chính lập kế hoạch về giải ngân, bố trí vốn cho các dự án. Xây dựng hệ thông tiêu chí ưu tiên vận động và phân bổ ODA theo nghành, lĩnh vực và địa phương; Quy trình và thủ tục xây dựng Danh mục chương trình, dự án ODA yêu cầu tài trợ; áp dụng cac mô hình viện trợ, trong đó có các mô hình viện trợ mới, phù hợp với tính chất của từng nghành, lĩnh vực và địa phương; quy chế về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu cấu của tổ chức của ban quản lí chương trinh, dự án ODA; chế độ báo cáo, mẫu báo cáo thống nhất về ODA; chế độ theo dõi và đánh giá chương trình, dự án ODA. Đặc biệt, bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm theo dõi đánh giá tình hình quản lí và thực hiện các chương trình dự án, làm đầu mối xử lý các vấn đề liên quan đến nhiều bộ nghành. Chịu trách nhiệm báo cáo về tình hình thu hút, quản lí và sử dụng ODA.

Bộ tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, ban hành các văn bản hướng dẫn về: Chế độ quản lí tài chính đối với chương trình dự án ODA; chính sách thuế đối với chương trình, dự án ODA. Bộ tài chính với vai trò đại diện chính thức cho “người vay” là Nhà nước, Chính phủ trong các điều ước cụ thể về ODA có trách nhiệm chuẩn bị các nội dung đàm phán các chương trình dự án với các nhà tài trợ. Đặc biệt, bộ Tài chính có trách nhiệm quản lí đối với các chương trình dự án, theo dõi, kiểm tra công tác quản lý tài chính trong việc sử dụng vốn ODA.

Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với ngân hàng, bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan, ban hành các văn bản hướng dẫn về việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế về ODA.

  • Kết quả huy động và sử dụng ODA ở Việt Nam

Nguốn hỗ trợ phát triển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam và có vai trò đóng góp không nhỏ vào sự phát triển bền vững của đất nước. Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành tựu trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA.

Những kết quả đạt được trong thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy: cộng đồng tài trợ quốc tế đã khẳng định sự đồng tình và ủng hộ chính sách ngoại giao mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam. Việc tiếp nhận và sử dụng ODA góp phần tăng chường và củng cố vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều quan trọng hơn là nguồn vốn ODA được tập trung để đầu tư phát triển cơ sở hạ tần kinh tế- xã hội, góp phần tạo lập môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, khu vực tư nhân nhằm xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân.

1.2. Khái niệm và mục tiêu của ODA

1.2.1 Khái niệm

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển hính thức ODA official deverlopment assistance bao gồm các khoản viện trợ hoàn lại và không hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, hoặc tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang phát triển. Nguồn vốn ODA được thực hiện theo một cam kết hay một hiệp định vay vốn được kí giữa chính phủ nước đi vay (nước nhận đầu tư) và chính phủ, tổ chức cho vay.

Vốn ODA có tính chất ưu đãi gắn với nhiều điều kiện giàng buộc. Hầu hết các nước viện trợ nói chung đều áp đặt những giàng buộc nhất định cho nước tiếp nhận nhằm đạt được những mục đích nhật định về chính trị , kinh tế..

1.2.2 Mục tiêu của ODA

Trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển ODA, hai mục tiêu chính mà các luồng vốn ODA hướng tới đó là

  • Thúc đẩy, tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở các nước đang phát triển
  • Tăng cường lợi ích chính trị của các nước viện trợ

Bằng luồn vốn ODA của các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ các tổ chức quốc tế các nước nghèo và đang phát triển có điều kiện thực hiện các chước trình, dự án phát triẻn kinh tế xóa đói giảm nghèo. Hơn thế xét trên bình diện  quốc tế các nước phát triển giúp đỡ các nước đang phát triển giải quyết các vấn đề như bình đẳng giới, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, song thần,…là những điều kiện tiên quyết mang đến sự ổn định và thịnh vượng cho toàn cầu.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội thế giới và các chương trình hợp tác phát triển toàn cầu các mục tiêu ODA ngày càng được mở rộng và tuyên bố rõ ràng hơn.

Tại hội nghị Thượng đỉnh thiên niên kỉ của UNDP tháng 9/2000 đã khẳng định 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỉ (MDG):

  • Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và xóa đói
  • Đạt phổ cập giáo dục tiểu học
  • Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế năng lực cho phụ nữ
  • Giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em
  • Tăng cường sức khỏe bà mẹ
  • Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác
  • Đảm bảo bền vững về môi trường
  • Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển

1.3. Đặc điểm và phân loại ODA

1.3.1 Đặc điểm của ODA

ODA là các khoản viện trợ hoàn lại hoặc không hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi. Do vậy nó có những đặc điểm sau

ODA hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng của các nước đang và chậm phát triển. ODA chỉ bao gồm các giao dịch tài chính quốc tế ở tầm cỡ quốc gia ( chủ thể tiếp nhân ODA là chính phủ của các quốc gia)

Vốn ODA có thời gian ân hạn và hoàn vốn dài. Một phần của ODA có thể là không hoàn lại, phần ODA hoàn lại có lãi suất thấp hơn so với lãi suất vay thương mại quốc tế

Vốn ODA chỉ dành cho các nước đang phát triển. Các nước này có thể nhận ODA khi đáp ứng được một số điều kiện nhất định. Một là, tổng sản phẩm quốc nội thấp. Hai là, mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên của các bên cho vay.

Vốn ODA thường đi kèm theo những ràng buộc về kinh tế, chính trị đối ới các nước tiếp nhận. Các khoản viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng bề vững và giảm sự nghèo khó của các nước nhận viện trợ đồng thời nhằm mở mang thị trường tiêu thu sản phẩm và vốn. Tính rang buộc của ODA còn được thể hiện qua mục đích sử dụng mỗi một thỏa thuận hay hiệp định vay vốn đều dành một lĩnh vực đầu tư cụ thể, nước tiếp nhận ODA không thể tùy tiện thay đổi. Nếu không tuân thủ những quy định nhằm đảm bảo mục tiêu thì thỏa thuận vay vốn có thể bị bên cho vay đơn phương hủy bỏ.

  • Có khả năng gây ra gánh nặng nợ nần cho các nước tiếp nhận

Một số nước đi vay chủ quan với nguồn vốn ODA và không sử dụng một cách có hiêu quả, do vậy, mặc dù đã sử dụng một lượng vốn lớn nhưng lại không tạo ra nhhững điều kiện tương ứng để phát triển kinh tế. Nước đi vay đã không trả được lãi và vốn vay ODA theo đúng cam kết và để lại gánh nặng nợ nước ngoài cho thế hệ sau. Do đó, nước đi vay trước khi tiếp nhận vốn ODA cần phải kết hợp với chính sách thu hút các nguồn vốn khác để chúng hỗ trợ nhau nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế.

Hơn thế thủ tục ODA khá phức tạp cần nhiều thời gian trong các giai đoạn của dự án như chuẩn bị các tài liệu về nhu cầu tài trợ, tiếp xúc quảng bá vận động ODA, đàm phán tài trợ thiết lập các dự án khả thi và các hồ sơ giải ngân…

1.3.2 Phân loại nguồn vốn ODA

Viện trợ không hoàn lại

Viện trợ hoàn lại ( cho vay ưu đãi)

Viện trợ hỗn hợp

Hỗ trợ cơ bản: Sử dụng cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường. Đây thường là các khoản vay ưu đãi.

Hỗ trợ kĩ thuật:sử dụng cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực, nghiên cứu cơ bản,.. đây thường là các khoản viện trợ không hoàn lại.

ODA ràng buộc

ODA không ràng buộc.

Theo dự án: là hình thức chủ yếu, vốn ODA được thực hiện theo những dự án cụ thể

Phi dự án: hỗ trợ cho cán cân thanh toán bằng cách hỗ trợ tài chính trực tiếp thong qua tiền tệ, hang hóa; hỗ trợ để trả nợvà hỗ trợ theo các chương trình.

ODA song phương là khoản ODA do chính phủ nước này cho Chính phủ nước khác vay theo hiệp định kí kết giữa hai bên.

ODA đa phương là ODA của các yổ chức quốc tế (IMF,WB…), các tổ chức khu vực (ADB,EU,..)hay của chính phủ nước này dành cho chính phủ nước khác nhưng được thực hiện thong qua các tổ chức đa phường như UNDP,FAO,..

ODA của các tổ chức phi chính phủ(NGO) là các khoản ODA được tài trợ bởi các tổ chức phi chính phủ quốc tế.

Nguồn ODA do bên tiếp nhận điều hành: nhà tài trợ không can thiệp sâu vào cơ chế quản lí tài chính và công tác điều hành của bên vay, mà chỉ thực hiện việc kiểm tra giám sát

Nguồn ODA do nhà tài trợ quản lí toàn bộ: các khoản chi tiêu cho dự án do nhà tài trợ quyết định và chi trả.

Nguồn ODA các bên cùng quản lí: các hoạt động của dự án được quản lí theo cơ chế thống nhất giữa hai bên.

1.4. Vai trò của ODA

1.4.1 Đối với nước nhận tài trợ

  • Tác động tích cực của ODA

Nguồn vốn ODA là nguồn vốn bổ sung cho đâu tư phát triển tại nước tiếp nhận

Nguồn vốn ODA với lượng vốn lớn, thời hạn dài là nguồn vốn quan trọng để đầu tư cho các công trình hạ tầngkinh tế lớn như xây dựng đường giao thâng

Viện trợ giúp phát triển nguồn nhân lực, giảm tình trạng đói nghèo và cait thiệnc ác chỉ tiêu phát triển

Viện trợ giúp cải thiện thể chế và chính sách kinh tế

Nguồn vốn ODA bổ sung nguồn ngoại tệ cho đất nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

  • Tác động tiêu cực của ODA

Phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc do nhà tài trợ đưa ra, gây bất lợi cho quốc gia về mặt kinh tế, chính trị, xã hội.

Các khoản vay ODA làm tăng gánh nặng nợ nần cho quốc gia

1.4.2 Đối với nước tài trợ

  • Tác động tích cực của ODA

Về kinh tế, các ràng buộc kinh tế giúp các nước viện trợ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư ở nước ngoài, mang lại lợi ích kinh tế cho nước mình. Ngoài ra các chuyên gia tư vấn,các công ty của nước tài trợ khi tham gia hoạt động ở nước tiếp nhận ODA cũng được hưởng những ưu đãi

Về chính trị, ODA được sử dụng như một công cụ để xác định vị trí, ảnh hưởng của các nhà tài trợ tại các nước và khu vực nhận tài trợ, mở rộng quan hệ ngoại giao trong tương lai.

  • Tác động tiêu cực của ODA

Bên cạnh những tác động tích cực, ảnh hưởng tiêu cực của ODA đối với các nước viện trợ là áp lực từ công chúng trong nước. Họ cho rằng việc chính phủ tài trợ cho nước khác làm giảm thu nhập và mức sônga của họ, hơn nữa việc chính phủ dành một phần ODA cho các nước khác cũng làm ảnh hưởng chương trình đầu tư và phát triển kinh tế xã hộitrong nước. Ngoài ra ODA còn tạo ra nạn tham nhũng trong quan chức nếu các quốc gia tài trợ không có chính sách kiểm soát và quản lý chặt chẽ, viêch chấp nhận tài trợ có thể không phải dựa trên cơ sở mục tiêu đã được xác định mà

http://svtm.edu.vn/thu-hut-va-su-dung-von-oda-o-viet-nam-2011-2015-phan-1/